Hiển thị các bài đăng có nhãn Kỹ thuật. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Kỹ thuật. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Bảy, 30 tháng 11, 2013

Giống cây trồng năng xuất cao, dễ trồng, nhanh ra trái, giá trị cao.

 Hiện nay trên thị trường rất nhiều loại giống cây ăn trái. Điều này làm cho người trồng rất dễ hoang mang khi lựa chọn loại giống . 

- Với 1 số giống dù trái rất ngon nhưng công đoạn chăm sóc cây rất khó khăn, phải xử lý sâu bệnh liên tục, hoặc 1 số loại dễ trồng nhưng ra trái rất ít, thậm chí không có trái, nếu có trái thì cũng không ngon, và một số giống dù dễ trồng nhanh ra trái nhưng lại gặp rất nhiều sâu bệnh hại cây. Nếu không có tham khảo kinh nghiệm của những người trồng trước thì rất khó lường trước.
- Nắm được yêu cầu trên Hoàng Long xin chia sẽ 1 số loại giống đạt năng xuất cao, dễ trồng, nhanh ra trái, chất lượng trái ngon, giá trị trái cao, thậm chí trồng chậu ra trái tốt để mọi người tham khảo.

1. Táo thái

- Đây là loại giống có khả năng ra trái sau 3-5 tháng trồng từ cây ghép. Có khả năng đậu trái nhiều mà không có hiện tượng suy cây. Đặc biệt là cây không gai, không kén đất, rất dễ trồng. Ra trái liên tục, quanh năm.
- Trái táo thái thuộc loại ngon nhất nhì trong các loại táo có mặt ở VN. Trái to bằng trái chanh trở lên, vị giòn, ngọt, thanh.
- Giống này trồng chậu vẫn ra trái tốt.
Sâu bệnh:
- Táo thái thường bị rầy nâu làm cây ít đậu trái và lá quắn lại, nếu để lâu cây sẽ chết. Loại thuốc trị hiệu quả là Actara.
- Vòi đục trái và chim chóc thường ăn những trái táo sắp chín. Cách phòng chống hiệu quả và không dùng thuốc là sử dụng màng bọc trái để bảo vệ khi trái còn nhỏ.
Táo thái trồng dưới đất sau 5 tháng. Cao 60cm. trái ra đầy cây.

2. Ổi lê Đài Loan (Ổi lê ngọt)

- Đây là loại giống có khả năng ra trái sau 3-5 tháng trồng từ cây chiếc. Có khả năng đậu trái rất nhiều trên 1 cây, cây trồng sau tám tháng có thể đạt hơn 100 trái/cây. Đặc biệt là loại ổi không kén đất, rất dễ trồng. Ra trái liên tục, quanh năm.
- Trái ổi lê thuộc loại ngon nhất trong các loại ổi có mặt ở VN. Trái to từ 200-350gr, vị giòn, độ ngọt cao, vị thanh. Không cứng và có vị chát như các giống ổi khác.
- Giống ổi lê trồng chậu ra trái tốt.
Chăm sóc:
- Ổi lê ra trái hoàn toàn tự nhiên, không cần phải xử lý để ra trái như những giống ổi khác.
- Khi cây đậu quá nhiều trái nên lặt bỏ bớt để các trái còn lại phát triển lớn. Nếu để quá nhiều trái, cây sẽ có hiện tượng suy kiệt sau khi trồng, trái nhỏ lại do cây không đủ chất nuôi hết trái.
Sâu bệnh:
- Ổi thường bị rầy nâu làm cây ít đậu trái và lá quắn lại, nếu để lâu cây sẽ chết. Loại thuốc trị hiệu quả là Actara.
- Vòi đục trái và chim chóc thường ăn những trái ổi sắp chín. Cách phòng chống hiệu quả và không dùng thuốc là sử dụng màng bọc trái để bảo vệ khi trái còn nhỏ.

Một cành ổi lê
Một số giống ổi khác Hoàng Long đã dừng bán giống vì những lý do sau:
- Ổi không hạt: dù ngon nhưng công đoạn xử lý để ra trái rất khó khăn. Buộc phải cắt đọt, bón phân để cây đậu trái. Hơn nữa giống này lại rất kén đất và hay chết nhát.
- Ổi Long khánh: đây là loại ổi trái lớn có thể đạt tới 1kg. Nhưng bù lại phải trồng rất lâu mới có trái. Và số lượng trái rất ít so với cây. Vị trái cũng không ngon, quá cứng và chát.
- Ổi xá lị: loại giống này có rất nhiều ưu điểm nhưng trái quá nhiều hạt, độ ngọt không cao. Cây sau 1 thời gian trồng trái sẽ nhỏ xuống. Không phù hợp để phát triển lâu dài. Quan trọng nhất là giá trái khi thu hoạch rất rẻ.

3. Cóc thái

Chùm cóc thái
- Đây là loại giống có khả năng ra trái sau 5-8 tháng trồng từ hạt. Có khả năng đậu trái rất nhiều trên 1 cây, trái ra theo chùm từ 12-30 trái. Đặc biệt là loại cóc không kén đất, rất dễ trồng. Ra trái liên tục, quanh năm.
- Trái cóc thái khi còn chưa chín có độ giòn, thanh, chua vừa phải. Rất dễ ăn. Trái to nhất bằng trái chanh.
- Giống cóc thái trồng chậu ra trái tốt.
Chăm sóc:
- Mỗi cành cóc sẽ chỉ có 1 bông để đậu trái. Vì vậy sau mỗi đợt trái nên cắt bỏ các cành đã có trái giúp cây tẻ cành để sau này ra nhiều trái hơn
- Khi cây đậu quá nhiều trái nên lặt bỏ bớt để các trái còn lại phát triển lớn. Nếu để quá nhiều trái, cây sẽ có hiện tượng suy kiệt sau khi trồng, trái nhỏ lại do cây không đủ chất nuôi hết trái.
- Khi cây có nhiều trái trong chậu nên dùng cây chống 4 góc để đề phòng gió thổi làm cây động rễ, chết cây.
- Cóc thái rất nhạy cảm khi thay đổi vị trí trồng và thời tiết. Cho nên hạn chế tối đa việc chuyển chỗ cho cây. Nếu không rất dễ gặp hiện tượng cây rụng lá hàng loạt
Sâu bệnh:
- Cóc thái bị rầy nâu làm cây ít đậu trái và lá quắn lại, nếu để lâu cây sẽ chết. Loại thuốc trị hiệu quả là Actara.

4. Mận an phước

- Đây là loại giống có khả năng ra trái sau 12 tháng trồng từ cây chiếc hoặc ghép. Có khả năng đậu trái rất nhiều trên 1 cây. Đặc biệt là loại mận không kén đất, rất dễ trồng. Ra trái theo mùa, 1 năm có 2 lần ra trái.
- Trái mận an phước có độ ngọt cao, không hạt, ruột đặc.
- Giống mận trồng chậu được nếu trồng từ cây chiếc hoặc ghép.
Chăm sóc:
- Mận an phước thường gặp hiện tượng cây quá tốt khi trồng chậu. Toàn nuôi lá và không có dấu hiệu ra bông. Cách xử lý tốt nhất là bỏ khô, không tưới cây từ 3-7 ngày cho cây vàng và rụng bớt lá. Sau đó rải phân hữu cơ và tưới nước lại. Khoảng 1 tháng sau cây sẽ ra đọt và ra bông lại.
Sâu bệnh:
- Mận an phước bị rầy nâu làm cây ít đậu trái và lá quắn lại, nếu để lâu cây sẽ chết. Loại thuốc trị hiệu quả là Actara.
- Vòi đục trái và chim chóc thường ăn những trái mận sắp chín. Cách phòng chống hiệu quả và không dùng thuốc là sử dụng màng bọc trái để bảo vệ khi trái còn nhỏ.
Mận an phước

5. Lựu đỏ

- Đây là loại giống có khả năng ra trái sau 12 tháng trồng từ cây hạt. Có khả năng đậu trái rất nhiều trên 1 cây. Đặc biệt là loại không kén đất, rất dễ trồng. Ra trái quanh năm, liên tục.
- Trái lựu có độ ngọt cao, vị thanh, nhẹ và giàu chất dinh dưỡng
-  Giống lựu trồng chậu được.
Chăm sóc:
- Lựu thường rất ưa nắng, vì vậy khi cây thiếu nắng sẽ rất khó ra trái.
- Khi cây có trái trong chậu nên để từ 3-5 trái để tránh hiện tượng suy cây. Nên bón phân đầy đủ mỗi lần cây ra trái để trái phát triển to và đẹp. Nếu thiếu phân và nước trái sẽ nhỏ xuống, ăn không ngon.
Sâu bệnh:
- Lựu bị rầy nâu làm cây ít đậu trái và lá quắn lại, nếu để lâu cây sẽ chết. Loại thuốc trị hiệu quả là Actara.
- Sâu bọ thường chọn những trái non để chui vào trái. Khiến cho trái rụng sớm. Vì vậy nên bọc trái lại.
Hiện tại trên thị trường còn 2 giống lựu khác. Nhưng trái không ngon và chủ yếu chỉ để làm cảnh, hoặc làm thuốc.
- Lựu lê: rất nhanh ra trái, trái rất nhiều. Nhưng trái nhỏ, không ăn được. Giống này trồng chủ yếu để làm kiểng. Người mua rất dễ lầm giống này với giống lựu đỏ ăn trái vì hình dáng rất giống nhau.
- Lựu bạch: trái to, đặc tính y hệt lựu đỏ nhưng vị trái không ngon bằng lựu đỏ. Giống này chủ yếu trồng để làm thuốc, phong thủy.
Lựu đỏ


Thứ Ba, 22 tháng 10, 2013

Kỹ thuật bón phân theo giai đoạn cho cây ăn trái.

Trái cây chất lượng
- Để cây ăn trái đạt năng suất cao, có chất lượng ngon thì phân bón là yếu tố không thể thiếu trong quá trình trồng cây ăn trái. Tuy nhiên, tình hình sử dụng phân bón của người trồng rất khác nhau. Trong thực tế, người trồng thường bón phân chưa hợp lý. Có thói quen bón nhiều phân đạm, không chú ý nhiều đến phân lân và phân kali. Việc bón phân không hợp lý (nhất là bón nhiều phân đạm) có thể làm cho cây khó ra hoa, đậu trái. Nếu bón nhiều đạm trong giai đoạn nuôi trái có thể làm cho trái to, năng suất tăng nhưng chất lượng trái sẽ giảm, hiệu quả trái không cao.
- Cây ăn trái cần nhiều loại dinh dưỡng để sinh trưởng và cho năng suất, chất lượng nhưng trong đó, đạm, lân, kali là 3 yếu tố mà cây trồng cần nhiều nhất và ảnh hưởng lớn nhất đến năng suất, chất lượng trái cây.
- Phân đạm:
Phân đạm giúp cây sinh trưởng, phát triển, đâm chồi, đâm đọt…. Nếu thiếu phân đạm, cây sẽ chậm đâm đọt, còi cọc, làm giảm năng suất đáng kể, nhưng bón thừa phân đạm, sẽ làm cho cây có nhiều cành lá sum suê, dễ bị sâu bệnh tấn công… làm giảm chất lượng, tăng tỷ lệ hao hụt, thất thoát.
- Phân lân:
Lân cần thiết trong việc giúp cây đâm rễ, đâm chồi,…. Nếu thiếu lân, cây sẽ còi cọc, ít đâm đọt, khó ra hoa, đậu trái…
- Phân kali:
- Tăng cường vận chuyển dinh dưỡng, tăng tính chống chịu của cây đối với điều kiện bất lợi, giúp chồi mau thuần thục, dễ ra hoa, kali giúp tăng phẩm chất trái cây…
- Ngoài ra, các yếu tố trung lượng, vi lượng cũng đóng vai trò quan trọng trong việc làm tăng chất lượng trái cây. Trung, vi lượng thường có mặt khá đầy đủ trong các loại phân bón lá. Bên cạnh đó, phân hữu cơ cũng đóng vai trò rất quan trọng, giúp cung cấp một phần dinh dưỡng cho cây, nhưng cơ bản nhất là làm cho đất tơi xốp, giữ ẩm cho đất, giảm thất thoát phân bón…
- Để sử dụng phân bón đạt hiệu quả, có nhiều điều cần phải lưu ý như điều kiện đất đai, giai đoạn sinh trưởng, tình trạng sinh trưởng của cây, giống trồng…. Trong đó, quan trọng nhất là chủng loại, liều lượng phân bón theo từng giai đoạn sinh trưởng để đáp ứng tốt nhất yêu cầu của cây và cách bón thích hợp để cây sử dụng được nhiều nhất, ít bị thất thoát.
1. Về loại phân bón:
Liên quan chặt chẽ với giai đoạn sinh trưởng của cây.
- Đối với cây còn nhỏ, chưa cho trái:
Cây cần nhiều phân lân và phân đạm để thúc đẩy cây đâm rễ, đâm chồi. Do đó, cần tập trung bón nhiều phân đạm và lân cho cây. Phân lân nên bón lót, bón vào đầu hoặc cuối mùa mưa; đối với phân đạm và phân ka li nên chia nhiều lần bón hoặc tưới, khi đọt lá đã già.
- Giai đoạn cây đã cho trái:
Nên chia làm 4 lần bón chính: Sau thu hoạch, trước khi xử lý ra hoa, giai đoạn nuôi trái và trước khi thu hoạch.
+ Sau thu hoạch:
Là giai đoạn cây cần nhiều đạm và lân để ra rễ, đâm chồi. Cung cấp đủ đạm và lân sẽ giúp cây cho nhiều tược, tược mập mạnh….
+ Trước khi xử lý ra hoa:
Cần cung cấp đầy đủ dinh dưỡng, giúp cây thật sung tốt để cho cây phát hoa dài, khoẻ mạnh, dễ ra hoa, đậu trái. Giai đoạn này cần bón nhiều phân lân và kali, giảm phân đạm. Nếu bón thừa đạm sẽ làm cho cây ra tược, khó ra hoa.
+ Giai đoạn cây nuôi trái:
Cây cần nhiều đạm để giúp trái phát triển, đồng thời cần kali để tăng cường vận chuyển dinh dưỡng về nuôi trái, giúp đảm bảo năng suất, chất lượng trái.
+ Trước khi thu hoạch:
Khoảng 1-2 tháng trước khi thu hoạch (tuỳ theo giống/loại cây), không bón đạm mà bổ sung kali để giúp tăng chất lượng, màu sắc của trái cây, giúp trái ngon, đẹp và an toàn cho người sử dụng. Có thể phun phân kali qua lá.
2. Cách bón:
Hiệu quả sử dụng phân bón rất khác nhau phụ thuộc vào cách bón, kết cấu đất. Nếu đất để chặt hoặc bón không đúng cách sẽ làm cho phân dễ bị rửa trôi, bốc hơi… Do đó, cần làm cho đất tơi xốp bằng cách bón phân hữu cơ cho vườn cây ăn trái. Phân hữu cơ sẽ giúp đất tơi xốp, giữ nước, giữ phân, hạn chế thất thoát phân bón…
Về cách bón:
+ Cần lưu ý bón theo tán cây, cách gốc từ 1-1,5 m vì rễ cây ở phần gần gốc không còn hấp thu dinh dưỡng tốt, mà phần rễ tơ ở bên ngoài mới hút dinh dưỡng tốt nhất.
+ Nên xới xáo mặt đất trước khi bón hoặc đào hốc, đào rãnh để vùi phân vì phân bón rất dễ bị mất đi do bị rửa trôi hay bốc hơi, nhất là phân đạm.
+ Sau khi bón phân xong, cần tưới đủ nước để phân tan và cung cấp cho cây. Nếu bón phân mà không cung cấp đủ nước sẽ làm giảm hiệu quả sử dụng phân bón.
Ngoài ra, có thể bổ sung phân bón qua lá 2-3 lần trong giai đoạn nuôi trái, thúc đẩy quá trình phát triển trái và tăng chất lượng màu sắc của trái. Tuy nhiên, nếu trời âm u, mưa nhiều, bệnh phát triển… thì nên hạn chế sử dụng phân bón lá.
3. Lượng phân bón:
Cần gia giảm liều lượng phân bón tuỳ theo điều kiện cụ thể của từng cây, từng vườn. Lượng phân bón tăng dần từng năm theo độ lớn của cây. Giai đoạn cây đã cho trái, năm trước được mùa thì năm sau phải bón nhiều hơn năm thất mùa; trong cùng một vườn, những cây cằn cỗi cần được bón nhiều hơn cây sung tốt; Cây mang nhiều trái thì cần bón nhiều hơn cây ít trái… Nói chung, trước khi bón phân cần “Trông trời, trông đất, trông cây”… thì mới giảm được thất thoát, nâng cao được hiệu quả sử dụng phân bón, đồng thời còn giúp đảm bảo chất lượng trái khi thu hoạch và an toàn cho người tiêu dùng.
Theo Cục Trồng trọt

Thứ Tư, 25 tháng 9, 2013

Kỹ thuật trồng cây sơri


Kỹ thuật trồng cây sơri
Kỹ thuật trồng cây sơri
- Sơ ri là giống cây trồng thích nghi trên vùng đất nhiễm mặn. Quả sơ ri có chứa hàm lượng vitamin C rất lớn, chính vì thế mà trong nhiều năm qua, quả sơ ri không chỉ tiêu thụ trong nước mà còn được xuất sang các nước trong khu vực nhất là Nhật Bản. Vùng biển Gò Công của Tiền Giang, là nơi canh tác sơ ri với diện tích khá lớn trên 300 hecta, 2 năm qua, nông dân vùng này sản xuất sơ ri theo quy trình thực hành nông nghiệp viết tắt là GAP.
Cây sơ ri sinh trưởng rất là tốt, có thể bà con trồng trong vòng một năm là sẽ có thu hoạch trái chiến. Trong vòng 3 năm thì năng suất sẽ đạt cao nhất, thời gian sinh trưởng của cây sơ ri đến khi mà năng suất giảm không còn nữa thì thường cũng phải là 25 - 30 năm.Sơ ri dễ trồng và có thể phổ biến trong nông dân trên những vùng đất nhiễm mặn.

Chọn và nhân giống

Bà con nên chọn loại cây có độ tuổi từ 3 đến 7 tuổi, cây khỏe để làm giống. Có hai cách nhân giống, đó là phương pháp chiết cành và phương pháp giâm cành. Nhưng hiện nay, bà con nông dân chỉ áp dụng biện pháp chiết cành vì chúng hiệu quả hơn.

Khi chiết cành, chọn cành sát mặt đất, vỏ chuyển màu nâu, bẻ gập ngước cho gãy phần lõi nhưng vẫn còn dính lại phần vỏ. Nhúng vết gãy vào dung dịch 2,4 D nồng độ 40-60 phần triệu và bó đất vào bọc nilon lại sau 1-5 tháng, cắt ra cho vô bầu đợi đem trồng mới.

Trồng và chăm sóc

Ở Gò Công, sơ ri chủ yếu được trồng ở vùng nhiễm mặn, trên đất cát vòng ra biển. Bà con nên tiến hành cày hoặc cuốc lập đất từ 1-2 lần. Sau đó phóng tuyến đào hố với khoảng cách 5x5m, hố có kích thước 30x30 cm. Tốt nhất bà con nên trồng vào thời điểm tháng 5, tháng 6, chậm nhất là qua tháng 7, sau khi trồng bà con nhớ giữ cho cây sơ ri đứng thẳng. Bà con có thể dùng cây nọc để buộc cây sơ ri vào, cho cây đứng thẳng. Đào hố sâu 30, rộng 30-40 cm2, sau đó rắc phân hữu cơ oai mục, rồi trộn một ít NPK 20-20-15 + TE. Sau đó, trộn cái hỗn hợp này đều vào trong đất, sau đó phải qua một lớp đất phủ lên trên mặt, đặt cái bầu sau cho đáy bầu nó vừa tiếp xúc với phần thân mà bà con mới vừa lót, để cho cây mau bén rễ. Cắm cây, bà con nên nhớ là cắm cây dưới gió để tránh cây bị xao động nhiều, làm ảnh hưởng đến rễ mới ra sau này.

Cây chưa có trái

+ Bón Super lân 1 lần vào và dầu mùa mưa.

+ Bón thúc Urê và Kali chia làm 3 lần.

Cây đã có trái:

+ Bón super lân 2 lần vào đầu và giữa mùa mưa.

+ Bón thúc Urê và Kali chia làm 5 lần theo 5 đợt hoa.

Mỗi đợt, Urê và Kali chia làm 2 kỳ: kỳ đầy lúc cây vừa đậu trái, kỳ sau ngay sau lúc thu hoạch rộ.

Kết hợp phân bón với xới xáo dưới gốc cây.

Bón phân cho sơ ri kinh doanh: Lần 1 sau khi thu hoạch, tỉa cành tạo tán, bón 15-30kg phân chuồng hoai và 0,5-1kg At 1/cây; lần 2 trước khi ra hoa, bón 0,5kg At2 để nuôi bông kết hợp phân bón lá 007, khoảng 2-3 lần, mỗi lần cách nhau 7-10 ngày; lần 3 sau đậu trái, bón 1-2kg At 3 hoặc NPK 13-13-13+Te, kết hợp phun phân bón lá 007 để giữ hoa hoặc 009 để trái bóng đẹp, khoảng 2-3 lần, mỗi lần cách nhau 7-10 ngày. Thông thường sơ ri cho 5 đợt trái trong năm, cứ sau mỗi đợt thu hoạch rộ, bón 0,5-2kg NPK 13-13-13+Te kết hợp phun phân bón lá 007 để dưỡng hoa khoảng 2-3 lần mỗi lần cách nhau 7-10 ngày, và sau khi đậu trái bón 1-2kg At3 hoặc NPK 13-13-13+Te kết hợp phun phân bón lá 009 để trái bóng đẹp, khoảng 2-3 lần, mỗi lần cách nhau 7-10 ngày và phun trước khi thu hoạch từ 7-10 ngày.

Tưới vào mùa khô

Bà con nên tưới để cây có thể cho thu hoạch trong mùa khô từ 1-4 vụ. Tuy nhiên, bà con cũng cần lưu ý đến việc cho cây nghỉ, không ra hoa đậu trái 1,5-2 tháng/ năm để cây dưỡng sức.

Đối với nước tưới cây sơ ri thì nó cũng không quan trọng lắm, vì hầu như là loại nước nào tưới cũng được, mặc dù PH có thể thấp hoặc cao. Nhưng mà đối với vùng Gò Công, thì nó nhiễm phèn hơi nhiều, nước có độ PH cũng hơi thấp, cây sơ ri còn nhỏ, nên chủ yếu bà con tưới rau màu, rồi tưới cây sơ ri trong đó luôn vì trồng sơ richủ yếu là trồng xen. nếu cây sơ ri lớn tí nữa, thì bà con cũng sử dụng nước tưới với mô tưa suất ngựa là 1 suất ngựa và ống là ống 40. Chúng ta tưới xung quanh tàn cây và tưới phủ lên cây luôn, ở thời kỳ mưa nhiều thì chúng ta phải chẻ cái rãnh, giai đoạn nhỏ thì không cần chẻ rãnh vì chúng ta trồng hoa màu thì chúng ta lên liếp rồi thoát nước theo rãnh đó luôn. Còn sau khi cây mà gần giáp tán thì chúng ta phải chẽ rãnh ngang và rãnh dọc dạng hình chữ thập để cho nó thoát nước khi mưa nhiều và cũng tạo điều kiện cho chúng ta bơm tràn sau khi mùa nắng đã bắt đầu.

Tỉa cành và tạo tán

Tỉa cành tạo tán tại vì tàn của cây sơ ri rất là rậm rạp, nếu bà con không áp dụng biện pháp tỉa những cành già và những nhánh che chắn bên dưới, thì những cành đó sẽ vô hiệu quả, và không cho trái. Do đó mà bắt buộc chúng ta phải tỉa, để giúp cho câyđược thông thoáng, rồi không có những mầm bệnh xâm nhập vào. Cây cao 0,3m, bấm đọt chừa 3-4 cành tược khỏe mạnh; cây cao 0,8m, bấm đọt chừa 4-6 cành tược, trên mỗi cành tược cấp 1; khi cây cao 2-2,2m luôn phát đọt không cho cây cao thêm. Khi cây quá già, bà con nên uốn cành xuống để dễ thu hoạch. Khi canh tác cây sơ ri, bà con cũng cần chú ý đến khâu xử lý sơ ri ra hoa để có năng suất cao.

Phần xử lý ra hoa, trước đây thì sử dụng 24D để xử lý ra hoa, nhưng bây giờ sản xuất ra nhiều mặt hàng để bán cho người nước ngoài và chất lượng người tiêu dùng ngày càng cao, thì bà con nông dân không có sử dụng 24D để xử lý ra hoa nữa vì khi xử lý 24D thì trái nó đậu rất nhiều, làm cho cây nuôi không nổi và phẩm chất không đạt yêu cầu. Do đó, khixử lý ra hoa thì đa số bà con nông dân sử dụng phân và xiết nước,sau khi cây ra hoa thì bà con tiến hành xử lý đậu trái.Hoa của sơ ri thuộc dạng hoa chùm và nó đậu trái thành từng chùm từng chùm, nếu chúng takhông phun thuốc mà để dai cuốn trái thì trái sơ ri sẽ dễ bị rụng. Nên chúng ta sử dụng chất rorip để cho cây đậu trái và trái không đậu nhiều, mà trái nó to trònvà đẹp.Một chùm sơ richừng 3-4 trái nhưng nó đều với nhau.

Phòng trừ sâu bệnh

Trên cây sơ ri có một số sâu bệnh hại đáng chú ý như sau: Đối tượng sâu bệnh hại chính trên cây sơ ri thì, hiện nay có 3 đối tượng hại chính. Thứ nhất là con ruồi đục quả, thứ hai là con riệp sáp và thứ ba là con rầy ốc. Đối với con ruồi đục quả thì, bà con nông dân sử dụng supiroptein, hiện của viện nghiên cứu cây ăn quả miền nam hỗ trợ, phun thành từng chòm từng chòm trên vườn cây để diệt được con ruồi, còn con riệp sáp thì bà con xử lý bằng supraxitvà con rầy ốc là một đối tượng tương đối mới, thì bà con sử dụng chất actara để diệt con này hoặc là supraxit. Còn về bệnh thì hiện nay đối với cây sơ ri thì nó ít bệnh, nó chỉ có một bệnh đối tượng bị ảnh hưởng tới rễ là do cây bị oi nước, những khu vườn mà thoát nước kém, do bà con không đánh rãnh, thì cây sẽ bị còi cọc, vàng lá. Đểkhắc phục hiện tượng này thì bà con có thể đánh rãnh thoát nước, rồi bón bổ sung phân vi lượng có tác dụng kích thích các bộ rễ, cộng thêm lân có tác dụnggiúp bộ rễ phát triển tốt trở lại.

Quả sơ ri có lớp vỏ mỏng, dễ bị hỏng khi thu hoạch nên bà con cần lưu ý một số điều sau: Đặc biệt đối với cây sơ ri, là loại cây thu hoạch chậm, tốn công lao động, để bảo quản trái đạt yêu cầu, không bị bầm dập, không mất giá trên thị trường để bán. Để bảo quản cây sơ ri khi thu hoạch,trước hết là về vấn đề bón phân, chúng ta phải bón phân cho cân đối, đặc biệt trong đó phải có bón phân Kali cho cây đủ sức, vì nếu không có bón phân kali, từ khi thu hoạch, thì chỉ cần cách một bữa là trái sơ ri nó sẽ hư không còn ăn được. Nếu có bón phân kali thì khi hái trái xuống để sau 5 ngày, trái sơ ri vẫn ăn được và còn tốt.Nhiều năm nay, nông dân vùng Gò Công rất phấn khởi vì giá trái sơ ri tăng lên do đã có thị trường xuất khẩu tương đối ổn định, chủ yếu xuất khẩu qua thị trường Nhật Bản.

Sơ ri là cây dễ trồng, có thể trồng trên nhiều loại đất khác nhau, điều chú ý là trồng được ngay trên vùng đất nhiễm mặn. Tuy nhiên, việc canh tác hiện nay cần phải theo các biện pháp an toàn thực phẩm, nên bà con cần thực hiện quy trình sản xuất như hướng dẫn trên để mang lại hiệu quả cao hơn.

Đây là chương trình” Bạn của nhà nông” chúng tôi xin gửi đến bạn đọc để cùng tham khảo.

Tác giả: Nguyễn Thị Ánh Nguyệt

Thứ Ba, 24 tháng 9, 2013

Kỹ thuật trồng cây mãng cầu xiêm

Kỹ thuật trồng cây mãng cầu xiêm
Kỹ thuật trồng cây mãng cầu xiêm

- Cây mãng cầu xiêm chủ yếu được trồng ở Nam Bộ và rãi rác ở Nam Trung Bộ. Mãng cầu xiêm là thực phẩm qúi nhờ giàu chất khoáng: lân, canxi và rất nhiều Vitamin B 1, B2,P,C có vị chua ngọt rất ngon khi làm nước sinh tố rất thích hợp cho người Phương Tây nhưng không thích hợp với khẩu vị người Á Ðông. Hiện nay ở Việt Nam đã đóng hộp được nước quả mãng cầu xiêm.
- Trái mãng cầu xiêm lớn hơn mãng cầu ta rất nhiều, nặng trung bình từ 1-2 kg có khi lớn hơn nữa, vỏ ngoài nhẵn chỉ phân biệt múi nọ với múi kia nhờ mỗi múi có một cái gai cong, mềm vì vậy còn có tên là mãng cầu gai.
- Nguồn gốc từ châu Mỹ Latinh, được trồng ở các nước nhiệt đới và cận nhiệt đới không có sương.
II. Ðặc điểm sinh thái
Lượng mưa thích hợp cho mãng cầu xiêm là 1.800 mm, chịu hạn và lạnh kém hơn mãng cầu ta. Ðộ pH thích hợp từ 5,0-6,5. Ở vùng đất mặn hoặc nhiễm mặn có độ pH thấp và chịu ảnh hưởng của thủy triều người ta trồng mãng cầu ghép trên gốc bình bát, các nơi khác người ta trồng mãng cầu xiêm bằng hạt.
III. Giống và đặc điểm thực vật
Mãng cầu xiêm thuộc loại cây tiểu mộc cao 6-8 m, tán lá xanh quanh năm, hoa ở thân hay các nhánh già, hoa lớn. Hiện nay, ở Nam bộ có hai thứ mãng cầu: mãng cầu xiêm ngọt và chua. Thứ ngọt lá và quả thường nhỏ hơn thứ chua, giá cao hơn. Nhưng thứ chua có năng suất cao, dễ bán và làm mứt hay kẹo dễ hơn.
IV Kỹ thuật trồng
1. Nhân giống
Ðối với mãng cầu xiêm khi trồng tùy theo điều kiện đất đai cụ thể từng nơi mà chúng ta có thể ghép hoặc trồng bằng hạt. Nếu đất nhiễm mặn hoặc phèn mặn ngập nước theo thủy triều thì trồng mãng cầu ghép trên gốc bình bát. Các vùng khác thì trồng bằng hột hoặc chiết (sau 2-3 năm sẽ cho trái).
2. Khoảng cách trồng
Nên trồng khoảng cách 3 x3 m, một số nơi trồng 2,5 x2,5 m
3. Phân bón
Cần bón cân đối NPK nên chọn các loại phân 10-10-10 với loại phân trên năm 1 bón 100g, năm thứ 2 bón 400 g, năm thứ 3 bón 800g, năm thứ 4 bó 1,2 kg/cây. Khi cây lớn bon gia giảm từ 2-3 kg/cây/năm. Nếu đất xấu hoặc trên đất cát nên bổ sung thêm 10-20 kg phân chuồng /cây/năm. Chia làm 2-3 lần bón, sau thu hoạch (cuối mưa) và khi cây nuôi quả (đầu + cuối mùa mưa).
4. Thụ phấn bổ sung cho mãng cầu xiêm
Nhìn chung hoa mãng cầu có nhụy cái trưởng thành trước nên đòi hỏi thụ phấn chéo, hoa không có mùi thơm nên hấp dẫn ít côn trùng, cánh hoa dày và khi nở hé ra ít, hoa lại mọc chúc xuống . Thường côn trùng thụ phấn không đủ nên cần thụ phấn bổ sung bằng tay để tăng sự đậu quả. sự thụ phấn thiếu sẽ làm quả méo mó không nở phồng về các phía,hoa thiếu thụ phấn sẽ đen rồi rụng. Khi thụ phấn bổ sung bằng tay, hột phấn thường lấy ở những hoa bìa tán cây hay ở các cành nhỏ vì chúng ít có cơ hội phát triển thành quả lớn ,các cành nhỏ yếu không mang nổi quả tới khi thu hoạch. Lấy hoa có cánh đã hé, phần nhị đực có màu kem là tốt, thu hoa vào buổi chiều, để hoa vào một cái hộp nhỏ đậy kín cho khỏi mất nước, sáng hôm sau dùng một que nhỏ đầu cuốn bông gòn chấm vào hột phấn có màu vàng nhạt, tay phải cầm que có chấm hột phấn, tay trái kẹp hoa muốn thụ vào kẽ ngón tay, đầu ngón cái banh cánh hoa rộng ra, quét hột phấn lên nướm nhụy cái lúc này có màu trắng và ướt dính, quét đều và nhẹ nhàng. Hoa cần thụ nên chọn hoa chọn mọc ở thân hoặc những cành to, có cánh đang hé nở ra. Quả phát triển từ hoa được thụ thường to và nở đều. Cây sẽ sai quả hơn. Tất nhiên một lần chỉ thụ được một số hoa, như vậy phải làm nhiều lần, cách nhau khoảng 4 ngày.
5. Sâu bệnh hại chính
Sâu gây hại phổ biến nhất vẫn là rệp sáp và các loại rầy miệng chích hút khác, làm giảm chất lượng, sản lượng. Trị bằng nhiều loại thốc như BI 58, Applaud Mipcin,…
Rệp và rầy ngoài việc chích hút nhựa làm hại trái, còn tạo điều kiện thuận lợi cho một số bệnh xâm nhập, nhất là bệnh thán thư gây những vết hoặc đen.
Cách đề phòng: trồng thưa, giữ vệ sinh trong vườn không để cành lá bị bệnh vương vãi kể cả các loại trái cây khác cũng bị thán thư phá hại như ổi, xoài. Xịt thuốc benlat C, Kasuran BTN, Aliette 80 BTN,…
Nguồn: hội nông dân Cần Thơ

Kỹ thuật trồng và chăm sóc mãng cầu ta

Kỹ thuật trồng và chăm sóc mãng cầu ta
Kỹ thuật trồng và chăm sóc mãng cầu ta

Cách nhân giống
- Nhân giống bằng hạt: do hạt có vỏ cứng bao quanh nên có thể bảo quản được 2 – 3 năm. Xử lý hạt bằng cách: xóc hạt với cát cho sứt vỏ, hoặc xử lý axit sunfuric, ngâm nước nóng 55 – 600C trong 15 - 20 phút, hạt có thể nảy mầm sau 2 tuần lễ. Trồng từ hạt sau 2 - 3 năm cây có thể cho trái.
- Nhân giống vô tính bằng biện pháp ghép cành: Trước hết phải chọn những cây mẹ có những đặc tính ưu việt như: trái to ít hạt, hạt nhỏ, độ đường cao, dễ vận chuyển (múi dính thành một khối). Mãng cầu dai chỉ có thể ghép tốt trên 2 gốc ghép là mãng cầu dai và nê (có người gọi là bình bát vì trái giống bình bát) nhưng hạt nê khó kiếm, vậy tốt nhất là dùng gốc ghép mãng cầu dai. Có thể ghép áp, ghép cành hay ghép mắt. Gốc ghép phải 1 - 2 tuổi. Cành ghép là cành đã hóa gỗ đường kính 1 cm trở lên lấy ở đoạn cành lá đã rụng hết. Cắt dài 12 cm, có thể ghép nêm vào cành gốc ghép, cũng có thể cắt ngọn gốc ghép rồi cắt vạt gốc ghép và cành ghép sao cho áp vào nhau vừa vặn. Vết cắt dài khoảng 5 - 6 cm.
Đặc tính
- Mãng cầu dai ưa đất thoáng, không nên trồng ở đất thấp úng. Tuy chịu được đất cát xấu nhưng chỉ phát huy được ưu điểm nếu đất nhiều màu và không bón phân thì chóng già cỗi, nhiều hạt, ít thịt (cơm). Phải chăm sóc cây từ khi trồng để cây khoẻ, nhiều nhựa (sức sống tốt) thì mới cho trái ngon.
- Mãng cầu dai chống úng kém nhưng chống hạn tốt. Ở đất cát ven biển hay ở đất cao hạn gặp mùa khô, rụng hết lá, khi mùa mưa trở lại vào tháng 4 - 5 lại ra lá, ra hoa. Những lứa đầu hoa rụng nhiều, sau đó khi bộ lá đã khỏe, quang hợp đủ thì trái đậu. Những lứa hoa cuối, vào tháng 7 - 8 cũng rụng nhiều; trái kết được cũng nhỏ vì vậy mãng cầu dai thuộc loại trái có mùa không như chuối, dứa, đu đủ, và cả mãng cầu xiêm nữa (ở miền Nam là loại trái quanh năm). Cũng do nhịp độ sinh trưởng như vậy, trồng mãng cầu dai không cần tưới. Tuy vậy, nếu có tưới, chăm bón thì mùa ra trái kéo dài hơn.
- Mãng cầu dai tương đối chịu rét. Mùa đông ngừng sinh trưởng, rụng hết lá mùa xuân ấm áp lại ra đợt lá mới, nhờ đó mãng cầu dai không những trồng được ở miền Bắc mà còn ở Nam Trung Quốc, Đài Loan, Bắc Ấn Độ...
Trồng và chăm sóc
khi phải đánh bầu, đi trồng. Nếu ương cây giống bằng cách gieo hạt ở trong bầu nên đợi tới khi cây khoảng 1 năm tuổi cao khoảng 40 - 50 cm đem trồng thì dễ sống hơn.
- Ở đất cát ven biển đất xấu, người ta thường trồng quá dày và thường không bón phân do đó trái bé, hạt nhiều. Nên trồng với khoảng cách 4 m ở đất xấu, 5 m ở đất tốt kết hợp chăm bón để trái to, cơm nhiều.
- Thời vụ trồng: đầu mùa xuân và có thể kéo dài đến tháng 8, 9. Nhất thiết phải tưới đẫm nước khi vừa trồng, dù là cây ương trong bầu, hay cây đánh đi trồng cho đến khi cây xanh trở lại, phải tưới nếu nắng hạn. Sau này khi cây đã ra trái, tưới bổ sung khi gặp trời hạn cũng có lợi.
- Bón phân: Nên bón 20 - 30 kg phân chuồng khi trồng cho mỗi cây. Sau đó khi cây lớn bón phân cho 1 cây như sau: Phân chuồng hai năm đầu bón 20 kg/năm, sau đó từ năm thứ ba trở đi 30 kg/năm. Phân chuồng nên bón làm một lần hoặc hai lần trước mùa mưa và sau khi thu trái. Phân khoáng (bón thêm với phân chuồng) năm đầu bón phân NPK 16 -16 - 8 : 0,5 kg cho mỗi cây. Từ năm thứ hai trở đi cứ thêm 1 năm tuổi bón thêm 0,5 kg. Ví dụ năm thứ hai bón 1 kg/cây, năm thứ ba 1,5 kg và đến năm 9, 10 thì thôi không tăng nữa. Để trái thêm ngọt, có thể bón thêm phân Kali từ năm thứ ba trở đi, 0,5 kg cho mỗi cây, và sau đó tăng lên chút ít mỗi năm.
Sâu bệnh: mãng cầu dai ít sâu bệnh. Tuy vậy cần chú ý phòng trị rệp sáp, rất phổ biến ở các vườn ít chăm sóc. Khi mãng cầu chưa có trái rệp bám ở dưới mặt lá, dễ nhận ra ở màu trắng sáp và các tua trắng quanh mình, sinh sôi ở đó. Khi có trái thì bám vào trái hút nhựa, từ khi trái còn non đến tận khi chín, thường ở kẽ giáp ranh giữa hai múi vì chỗ này vỏ mỏng, không những làm mất mỹ quan, khó bán được, mà còn làm giảm chất lượng do vị nhạt.
- Trị bằng thuốc: Supracid, Bi 58ND, Applaud, Mipcin,... Xịt vào cuối vụ, khi không còn trái. Khi có trái, xịt cả vào trái, vào lá. Khi trái sắp chín, không xịt nữa, tránh gây độc cho người tiêu thụ.
Thu hoạch: dấu hiệu mãng cầu chín là màu trắng xuất hiện ở các kẽ ranh giới giữa 2 mắt, và các kẽ này đầy lên, đỉnh múi thấp xuống (mãng cầu mở mắt). Ở một số giống xuất hiện những kẽ nứt và ở các giống “mãng cầu bở” kẽ nứt toác. Nên lót lá tươi, lá chuối khô để trái khỏi sát vào nhau, vỏ nát thâm lại, mã xấu đi, khó bán. Hái xong nên vận chuyển ngay đến nơi tiêu thụ vì khi chín rồi, dù là mãng cầu dai, vẫn dễ nát.
Bảo quản:
Trái cây chín nhanh thường do quá trình hô hấp mạnh (hút khí O2 và thải khí CO2). Ngoài ra, trong quá trình chín, trái cây còn thải khí etylen và chính khí này quay trở lại kích thích trái cây mau chín hơn. Cách hữu hiệu để bảo quản trái cây không chín nhanh là dùng nhiệt độ thấp. Tuy nhiên, đối với một số loại trái cây nhiệt đới, khi nhiệt độ quá thấp sẽ bị tổn thương lạnh (trái nhũn, bị chấm đen,...). Vì vậy, nhiệt độ bảo quản không nên thấp hơn so với giá trị quy định. Với xoài cần bảo quản ở nhiệt độ không thấp hơn 130C, chôm chôm: 120C, mãng cầu: 130C, dưa hấu: 100C,... Nếu không có điều kiện bảo quản lạnh, có thể ngâm trái cây với dung dịch muối canxi (CaCl2, nồng độ 1-3% trong thời gian 1-3 phút) để ức chế quá trình hô hấp của trái cây.
Nguồn: (Hội nông dân Cần Thơ)

Thứ Sáu, 23 tháng 8, 2013

Bảo vệ trái cây bằng cách bao bọc



Thực hiện kĩ thuật bao trái khi trồng cây ăn trái giúp trái cây cũng không bị côn trùng, sâu (sâu đục cuống, bọ xít, ruồi đục quả, bệnh thán thư, đốm nâu...) cắn, chính và làm vỏ trái cây màu sắc đậm, nhạt đẹp theo ý muốn, không có các vết rám do sâu bệnh hoặc bị sém nắng, không làm thay đổi chất lượng trái.


Bao trái cũng làm giảm quả rụng do bị sâu bệnh gây, giảm số lần phun thuốc phòng trừ sâu bệnh, tăng năng suất cây trồng.
Nguyên tắc:
  • Nên bao trái sau 30-40 ngày sau đậu trái đối với chôm chôm, cam quýt. Sau 45 ngày sau đậu trái đối với nhãn, xoài, sầu riêng.
  • Trước khi bao trái cắt tỉa những dé hoa còn sót không đậu quả, cắt bỏ các cành tăm, lá vô hiệu và những quả nhỏ đối với các giống trái chùm và phun thuốc trừ sâu bệnh 1 lượt để diệt hết trứng, sâu non và nấm bệnh có sẵn trên mặt trái.
  • Dùng bao to bao nguyên chùm: chuối, nho, nhãn, vải, chôm chôm, cam quýt, xoài chùm…
  • Dùng bao nhỏ có kích thước phù hợp bao từng trái: xoài cát Hoà Lộc, bưởi, lê, ổi...
  • Dùng giấy có màu khác nhau để bao trái sẽ thu được những trái chín có màu đậm nhạt khác nhau.
  • Nếu bao bằng túi vải màu trắng trong, màu sắc tự nhiên của quả không thay đổi giống như khi không bao trái.
  • Bên trong túi có thể lót giấy báo để bao trái làm cho trái khi chín sẽ có vỏ màu sáng.
Cách bao trái:
  • Lồng bao bên ngoài trái hoặc chùm trái theo chiều từ dưới lên.
  • Một số loại bao chuyên dụng được sản xuất có sẵn dây cột miệng túi.
Đối với ổi:
  • Dùng bao có kích thước 16 x 20 cm. Khi ổi ra trái được 15-20 ngày (trái cỡ 2 cm), phun xịt một đợt thuốc trừ sâu, chờ 3-5 ngày sau thì bao trái.
Đối với bưởi:
  • Khi thu hoạch bưởi thường có trọng lượng từ 0,7-4kg.
  • Khi quả bưởi lớn tới kích cỡ 2-3cm, dùng túi vải có kích thước 30 x 35.
  • Dùng giấy sẫm màu lót bên trong thì khi chín, bưởi sẽ cho trái màu vàng nhạt rất đẹp. (Việt Linh)
Đối với xoài:
  • Nếu trái thu hoạch có trọng lượng 200-300g thì dùng túi kích cỡ 18cm x 24cm
  • Nếu trái thu hoạch có trọng lượng 0,5-1,5kg thì dùng túi kích cỡ 22 x 28 cm
  • Khi quả xoài đạt kích cỡ 2cm, dùng túi vải để bao trái.
  • Có thể dùng giấy craft (loại giấy bao xi măng) lót thêm lớp giấy đen ở phía trong để bao loại xoài vỏ vàng.
  • Dùng giấy trắng bao các giống xoài có vỏ màu đỏ khi chín.
Bao buồng chuối:
  • Khi các hoa chuối vừa nở hết, cắt phần hoa không có khả năng đậu quả sau, để vài ngày cho khô nhựa.
  • Tùy số nải có trong buồng chuối, mỗi nải chuối cần khoảng 20cm chiều dài túi, dùng túi dài 1,8-2,5m để bao trái.
Theo Việt Linh

Thứ Bảy, 30 tháng 3, 2013

Kỹ thuật trồng cây trong chậu

Cây ăn trái trong chậu
Cây ăn trái trong chậu

Cách trồng
- Cây ăn trái nên trồng những nơi có nắng mạnh, đặt biệt là nắng chiều. Để đủ khả năng quang hợp đậu bông nuôi trái và phát triển cây. Hơn 90% trường hợp cây không có trái hoặc không đậu trái do thiếu nắng để quang hợp
- Khi vào chậu nên bón lót 1 lớp phân hữu cơ dưới đáy chậu. Điều này làm cây phát triển nhanh hơn sau khi trồng.
- Chậu sau khi trồng phải đảm bảo thoát nước tốt. Đối với các chậu không có đế nên dùng vật cứng nâng chậu cao lên. Điều này làm cho rễ cây không mọc qua lỗ thoát nước làm bít lổ thoát nước của cây.
- Tránh bón trực tiếp phân vào gốc cây. Nhiều loại phân có đặt tính nóng làm chết rễ cây.
- Không bón phân quá nhiều với mật độ dầy đặc. Rất dễ làm cây thối rễ.
- Khi trồng ở những nơi nắng quá mạnh nên sử dụng các loại chậu hấp thụ nhiệt kém như thùng xốp, chậu nhựa để tránh chậu quá nóng làm chết rễ cây. Ngoài ra còn có thể dùng các miếng xốp cách nhiệt bao phủ quanh chậu
Chăm sóc:
- Trồng được 20-30 ngày có thể tưới nước phân pha loãng, mỗi tuần tưới 1 lần trong 1-2 tháng đầu. Sau đó định kỳ bón thúc 1 lần bằng phân hỗn hợp NPK và DAP. Lượng phân NPK 16-16-8 bón mỗi lần từ 0,2-1kg tuỳ cây nhỏ hoặc lớn. Dùng cuốc xới đất xung quanh gốc theo hình chiếu tán cây sâu 5-10cm, rải phân, lấp đất rồi tưới nước. Hàng năm bón thêm phân hữu cơ và bồi đất vào gốc.
- Cây ăn trái rất cần nước, nhất là khi quả đang phát triển. Nếu thiếu nước sẽ có hiện tượng trái nhỏ và chát
+ Riêng đối với táo sau 1 năm trồng nên cắt cụt hết các loại cành, chỉ để lại một đoạn gốc của vài cành lớn đã ra trong năm trước, cây sẽ cho nhiều cành mới trẻ hơn, cho năng suất và chất lượng quả tốt hơn.

Phòng trừ sâu bệnh:
- Rệp sáp phấn (Planococcus lilacinus): Rệp bám từng ổ trên đọt non, mặt dưới lá và chùm hoa, bên ngoài có lớp bột trắng bao phủ. Rệp chích hút nhựa làm lá và chùm hoa xoăn lại, đồng thời có nấm bồ hóng phát triển. Nếu rệp ít thì dùng tay giết, nếu nhiều thì phun các thuốc Fastac, Pyrinex, Supracide, Polytrinnnn..
- Sâu cuốn lá (Archips micaceana): Sâu non nhả tơ cuốn một hoặc vài lá thành tổ, nằm trong đó ăn lá. Có thể phòng trừ bằng bắt giết hoặc phun các thuốc Pyrinex, Supracide, Polytrinnnn..
- Ruồi đục quả (Bactrocera dorsalis): Dòi đục trong quả làm quả bị hư thối. Một quả táo thường có nhiều con dòi ăn phá. Phòng trừ bằng các biện pháp không để quả chín lâu trên cây, thu nhặt tiêu huỷ các quả rụng. Khi ruồi trưởng thành phát sinh dùng thuốc dẫn dụ Metyleugenol (Vizubon-D). Có thể tự làm bẫy bã ruồi bằng dùng một miếng quả chín (cam, quít, dứa, táoooo.), có tẩm thuốc sâu rồi đặt lên cây. Khi quả đã già sắp chín phun ngừa bằng các thuốc Trigard, Fastac. Biện pháp bao quả có tác dụng tốt hạn chế ruồi và sâu đục quả.
- Bệnh phấn trắng (do nấm Oidium sp.): Vết bệnh lúc đầu có màu trắng xám ở mặt dưới lá, sau tạo thành những vết cháy khô, phiến lá cuốn lại, cứng, đọt non chùn lại và khô chết. Hoa cũng bị xoắn và khô cháy, quả nhỏ và bị nứt khi chín. Đây là bệnh phổ biến và nguy hiểm nhất đối với cây táo. Phòng trừ bằng cắt bỏ tiêu huỷ bộ phận bị bệnh, phun các thuốc gốc đồng, lưu huỳnh, Anvil, Rovral, Topsin-MMMM..

- Các trường hợp trồng lâu mà cây không ra trái
Hiện tượng: Cây xum xuê lá nhưng không có trái. Đây là hiện tượng thường gặp khi cây nuôi lá quá nhiều nên đôi khi không ra bông, hoặc ra bông nhưng không đậu trái.
Xử lý:
- Ngừng tưới nước trong vài ngày vừa đủ để cây héo bớt 1 phần lá. Sau đó tưới bình thường kết hợp bón phân dưỡng cây nhằm kích thích sự sinh trưởng, giúp cây nẩy mầm và ra hoa.
- Ngắt đọt, cắt bớt cành thừa kết hợp bón phân dưỡng cây.
- Ngòai ra các trường hợp cây trồng không đủ nắng, không bón phân, để nhiều cây khác vào cùng 1 chậu cũng làm cây không thể có trái.
Xử lý: Chuyển cây ra góc có nắng(ít nhất là nắng chiều)
- Nếu lá nhỏ & có đốm vàng trên lá có nghĩa là cây thiếu chất cần bón các loại phân dưỡng cây.
- Nhổ bớt các cây có nguy cơ hút bớt dinh dưỡng của cây.